Nguyễn Du mừng đến thảng
thốt, không phải vì vua cử đi sứ, mà vì “không ngờ bạc đầu rồi mà vẫn
còn được thấy Thăng Long” (Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long). Ông cũng
than khóc một Thăng Long đã mất khi nhìn thấy cảnh “dinh thự ngàn năm
thành đường cái” và “một dãy thành mới làm mai một cung xưa”. Thăng
Long, bấy giờ đã là Hà Nội, không còn là kinh đô nữa. Có lẽ ông nghĩ đây
là lần cuối cùng và quả đúng như thế.
Chiến sĩ, thi sĩ Huỳnh Văn
Nghệ có một câu thơ hút hồn người mãi mãi: Từ thuở mang gươm đi mở cõi/
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
Nhà văn lớn Vũ Bằng với
“Thương nhớ Mười hai”, viết về các món ăn, món chơi đất kinh kỳ Hà Nội,
thực ra toàn bộ cuốn sách bàng bạc một nỗi nhớ Thăng Long mà vì hoàn
cảnh, vì kiểm duyệt không tiện nói thẳng ra mà thôi.
Có thể nói
mà không sợ sai, hầu hết những bài ca về Hà Nội, nhớ Hà Nội đều rung
động lòng người Việt, dù người Việt đó đang ở đâu, ở chiến tuyến nào.
Sao
hai tiếng Thăng Long - Hà Nội luôn làm lòng ta tan nát khi ta nhớ về,
như nhớ một cuộc tình, một người tình đã mất. Yêu lắm nên mới nhớ nhiều
là thế.
Hà Nội là nơi để đến. Hà Nội cũng là nơi để ra đi. Cuộc
di dân nào cũng để lại một vết cứa khó lành trong lòng người, một đường
đứt gẫy văn hoá. Có thể người di cư muốn chối bỏ một triều vua như hoàng
thân Lý Long Tường thời Lý, có thể do những lời đe doạ có thật hay
tưởng tượng, có thể là hậu quả chiến tranh, bức bách sinh kế và muôn vàn
lý do này khác.
Nhưng chắc chắn không ai muốn rời bỏ quê mẹ quê
cha, cái nôi của đời mình, cái nắng sớm mưa chiều với thông thổ, thức
ăn thức uống và bầu không khí dù có bị vẩn đục, dòng sông con suối dù có
bị ô nhiễm.
Rời quê đi làm ăn, dù có đi làm vua xứ người thì ai
cũng gạt nước mắt mà đi. Nếu ra đi mà chưa muốn khóc hay chưa kịp khóc,
còn hưng phấn vì những hy vọng ở chân trời thì dù thành công hay thất
bại, nước mắt rồi sẽ rơi vào giờ lâm tử. Maiakovskii có hai câu thơ đại
ý: Người ta có thể quên những ngày cơm rượu ê hề cổ cao năm ngấn/ Nhưng
không thể nào quên từng đói rét bên nhau.
Lịch sử luôn có dòng
xuôi ngược nhưng cuối cùng nước vẫn chảy về Đông. Đất nước đã liền một
dải. Cuộc di dân năm 1975, người miền Bắc, miền Trung và người Hà Nội
vào công tác hay lập nghiệp ở miền Nam không tức tưởi mà thanh thản như
di chuyển trong ngôi nhà hay mảnh vườn của mẹ. Nhưng không phải không có
nước mắt chia ly và nhớ nhung.
Những người Hà Nội ở Sài Gòn hôm
nay có thể “gửi cho em một ít nắng vàng” vì ngoài kia thiếu nắng và nếu
muốn về thăm quê thì họ lên tàu hay máy bay. Nỗi nhớ không còn tuyệt
vọng ngàn năm như trong câu thơ Huỳnh Văn Nghệ, như thi sĩ Nguyên Sa,
trong những ngày chia cắt nghiệt ngã đành mượn mưa nắng Sài Gòn mà nhớ
áo lụa Hà Đông; như nhà văn Vũ Bằng chỉ có thể nhâm nhi các món ăn, món
chơi Hà Nội trong câu chữ, phải mang luôn cái ân-hận-nhớ xuống mồ.
Nỗi
nhớ đã vơi nhiều trong một đất nước không còn em ở bên này cầu, anh ở
bên kia cầu, ở giữa là lính gác. Vẫn còn người ngồi khóc trên sân ga vì
không mua được vé tàu về Bắc ăn Tết nhưng không còn nỗi đau “một đi
không trở lại” của những người mang gươm mở cõi hay những nông dân đi
caosu Sài Gòn thuở nào.
Tôi đã từng xếp hàng mua phở ở quận 13
Paris, và tôi hiểu được thế nào là những món-ăn-sứ-giả-văn-hoá. Những
ông bà Việt kiều ở đây đủ lứa tuổi, nguồn xuất xứ, quan điểm chính trị,
có thể ném đá vào nhau trong một cuộc biểu tình. Nhưng trước món phở với
cái mùi không thể lẫn vào đâu bàng bạc, ngây ngất trong không gian chật
hẹp của cái quán nhỏ xô bồ kẻ đứng người ngồi, tất cả như hoà vào một:
Việt Nam. Dù có là tạm thời nhưng những giây phút tạm thời xảy ra mỗi
ngày theo bữa ăn sáng thì rất có thể thành mãi mãi.
Nếu bạn đến
một chung cư bình dân ở Sài Gòn bây giờ như Thanh Đa, bạn sẽ thấy sao nó
giống một khu phố bình dân Hà Nội đến thế. Như bắt thóp được cái nết ăn
kỹ tính, tinh vi của người Hà Nội, mỗi tuần hai lần, có một gánh hàng
cóc bán thực phẩm từ củ hành, múi tỏi đến bánh đúc, bánh cuốn, bánh đa
nướng, bánh đa thái, mật mía, miến dong, mộc nhĩ và măng tre măng vầu,
cả những quả trứng gà đẻ con so bé xíu nhưng ngon lành v.v... ; tất cả,
theo lời vợ chồng người bán, đều được gửi ôtô từ Bắc vào, chỉ thiếu món
tươi sống.
Giá cả không cao hơn, có nhiều món còn rẻ hơn vì
người bán mua được tận gốc. Những người Hà Nội thuộc lớp “Bắc sớm” hay
“Bắc muộn”, có cả Việt kiều gốc Bắc từ Pháp, từ Mỹ về xúm đen xúm đỏ
quanh tấm bạt trải ngay xuống lề công viên, hàng hoá hết veo trong một
hai tiếng đồng hồ.
Anh bạn tôi sinh ở Sài Gòn, lớn lên ở đây nói
không sai: “Cứ thấy ở đâu có bán thực phẩm Hà Nội là y như ở đó cậu có
cả một đại gia đình đồng hương. Và nơi nào có đồng hương của cậu là thế
nào sớm muộn cũng có một cửa hàng bán rau cỏ và thực phẩm Hà Nội”.
Tháng
Mười, mùa rươi vùng đồng bằng Bắc Bộ, khi gió heo may mang về cái lạnh
đầu mùa, người Hà Nội giàu hay nghèo cũng cố ra chợ Hàng Bè mua rươi, ăn
được một bữa rươi (có thể chỉ một bữa) trong năm. Người ta nói mỗi năm
phải được ăn rươi một lần mới chống được bệnh tật mùa đông, cũng như trẻ
có lên sởi mới thành người.
Cũng trong những ngày ấy, trong cơn
gió chướng và triều cường, người Hà Nội giữa Sài Gòn nháo nhác tìm mua
rươi ở vài cửa hàng lớn chuyên bán thực phẩm Hà Nội ở đường Trần Quốc
Toản, Điện Biên Phủ... Giá rươi treo trên trời, những 400 ngàn một kilô
chứ có ít đâu, nhưng phải quen, phải đặt trước mới có. Rươi được chở máy
bay vào, tuỳ theo con nước “ngoài kia” mà hiện diện ở Sài Gòn buổi sáng
buổi trưa hay chiều tối.
Cùng với rươi là củ niễng, thứ rau quý
mọc bên bờ ao, bờ ruộng, chỉ thu hoạch mỗi năm một lần, mà lại đúng vào
mùa rươi mới hay chứ. Rươi xào củ niễng, rắc mùi ta (ngò rí). Rươi đánh
trứng làm chả, thêm lá gừng, vỏ quýt, thịt thăn, rán vàng ăn với bún,
mà cũng phải thứ bún miếng Hà Nội, chạm răng vào là dậy lên một hồn đất
hồn người quê hương.
Nhờ thị trường nhạy bén và đất nước nối
liền, mùa nào thức ấy, người Hà Nội ở Sài Gòn vơi được nỗi thèm khát
thời trân mà những Nguyên Sa, những Vũ Bằng khao khát từ lúc lên tàu vào
Nam đến tận cuối đời.
Không phải bây giờ mà ngay cả trong cuộc
kháng chiến chín năm hay hai mươi năm khốc liệt, khi hy vọng thống nhất
chỉ đang thấp thoáng ở chân trời thì Hà Nội vẫn thân thiết, gần gũi mọi
người Việt dù ở đang ở phía bên này hay bên kia chiến tuyến. Câu thơ của
Huỳnh Văn Nghệ nói lên chính cái “ngàn năm thương nhớ” không chỉ của
riêng ai.
Cuộc xâm nhập của văn hoá ẩm thực luôn có hai chiều
xuôi ngược. Cái được coi là nết ăn có vẻ cố chấp, cầu kỳ và phức tạp nữa
của người Hà Nội trên đất Sài Gòn đi cùng sự hiện diện ngày càng đông
của người miền Bắc đã để lại ít nhiều dấu vết. Người Sài Gòn bắt đầu
thích “phở” cùng hủ tiếu, bát phở của họ đã ít đường hơn, nhiều người
thích ăn bánh cuốn theo kiểu Bắc là có một bát nước chấm, kèm thêm mấy
miếng chả quế. Miếng ngon thường rất nhanh tìm được mẫu số chung.
Thăng Long ngàn năm tuổi.
Ngàn
năm sau, kinh đô một nước Việt Nam thống nhất đang hiện diện không chỉ
trong tâm hồn mà cả trên đường phố Sài Gòn, khi rồng thiêng bay lên bên
bờ sông Hồng trong chuyến dời đô của Lý Thái Tổ, nơi đây vẫn còn là một
miền đất xa lạ.