“Nơi tôi sinh Hà Nội…”
1. Nhiều năm về trước, giữa đêm mùa đông Hà Nội, một người phụ nữ đi bộ
một mình từ phố Đặng Thái Thân, rẽ ra Tràng Tiền rồi qua Tràng Thi. Cứ
khó nhọc được vài bước bà lại dừng, ôm bụng. Bà nói thầm, con ơi ráng
chút xíu nghe, gần tới nơi rồi.
Đích đến của bà và đứa bé đang nóng lòng muốn chào đời là Bệnh viện C.
Tại đó bà đã sinh ra một bé gái có cặp mắt to, khuôn miệng nhỏ và nước
da ngăm ngăm… Cô bé ấy là tôi bây giờ.
Vài năm sau, gia đình tôi chuyển về ở phố Ngô Thì Nhậm. Ký ức tuổi thơ
là con phố có hai hàng cây cao rợp mát, là ngôi trường mẫu giáo đầu phố
Phan Chu Trinh mỗi ngày chị dắt tay tôi đến đó, là tiếng tàu điện leng
keng loẹt xoẹt dọc đường phố Huế đi lên Cầu Giấy hay xuống chợ Mơ suốt
nhiều năm đưa tôi đi học.
Ngày ấy khu vực Cầu Giấy – Yên Hòa hay đường Trương Định cuối chợ Mơ còn
là vùng ngoại ô buồn hiu hắt. Dấu hiệu “thành phố” có lẽ chỉ là vài
chiếc xe đạp thưa thớt trên đường, ngọn đèn đường vàng vọt chao nghiêng
trong cơn gió bấc đầu mùa. Những ngôi nhà nhỏ mái ngói xen lẫn mái tôn
nằm giữa khu vườn trồng hoa hay ruộng rau mùa nào thức ấy.
Mỗi buổi sớm mai có cô thiếu nữ đi bộ theo đường Trương Định đến trường.
Ngày nào cũng vậy, khi đi qua mảnh vườn nhỏ trồng toàn hoa hồng tiểu
muội, luôn có một người chờ cô ở đó với những bông hoa còn đẫm sương
đêm. Bạn dắt xe đi bên cô… cứ thế, giữa hai người là chiếc xe đạp và
hương thơm quấn quýt trên suốt con đường.
Từ những con đường ngoại ô Hà Nội đêm đêm rì rầm từng đoàn ôtô xanh lá
ngụy trang và xanh màu áo lính đi mãi, đi mãi về phía nam… Những chuyến
xe mang theo người bạn của tôi và nhiều người bạn khác. Mang theo cả
những buổi sáng yên bình của một thời thiếu nữ.
2. Vào những năm 1954 – 1955, hàng ngàn người con Nam Bộ đã tập kết ra
Bắc, với niềm tin và hy vọng chỉ sau hai năm sẽ được trở về quê hương
yêu dấu. Ba má tôi cũng nằm trong số đó. Và không ai có thể hình dung
được rằng mãi hai mươi năm sau mới lại được đặt chân về đôi bờ Đồng Nai,
Vàm Cỏ, Cửu Long… Một thế hệ mới đã kịp ra đời và lớn lên ở Hà Nội –
miền Bắc, đó là thế hệ chúng tôi.
Hai mươi năm sống ở miền Bắc mà ba má tôi vẫn giữ được giọng nói và tính
cách người Nam Bộ chân chất thiệt tình. Đến lượt tôi, là người Sài Gòn
hơn 30 năm rồi, nhưng tôi vẫn giữ cho mình một chút Hà Nội, ấy là giọng
nói “hơn cả người Hà Nội bây giờ” như nhiều người nhận xét.
Nhớ lần đầu về quê dưới miền Tây, bà con nghe tôi nói đều lắc đầu không
hiểu “trời ơi, nó nói tiếng gì hổng phải tiếng Việt!”. À, dân miền Tây
Nam Bộ khi nói “tiếng Việt” tức là tiếng Nam Bộ hay tiếng miền Trung,
chứ tiếng Huế, tiếng Bắc đã gọi chung là “người xứ Huế”, nghe xa xôi
lắm…
Khác với nhiều tỉnh, thành trong cả nước, suốt thế kỷ 20 Sài Gòn là nơi
thường xuyên tiếp nhận những làn sóng nhập cư. Bây giờ đã có một lớp
người Sài Gòn nói giọng Hà Nội, cũng như rất nhiều người Sài Gòn nói
giọng Quảng Nam, giọng Huế. Giữa tiếng nói của nhiều vùng miền, tiếng Hà
Nội trở nên thân quen hơn với người Sài Gòn, người Nam Bộ.
Ai đó đã nói rất đúng rằng, chỉ cần nghe bạn nói bằng ngôn ngữ nào thì
có thể hình dung “nền tảng văn hóa” của bạn! Những người Sài Gòn nói
tiếng Hà Nội như tôi có chút tự hào vì mình được di truyền văn hóa của
quê hương Nam Bộ và tiếp nhận văn hóa của thủ đô ngàn năm văn hiến. Điều
đó giúp cho tâm hồn, tính cách mỗi chúng tôi trở nên phong phú hơn. Và
có thể nói rằng, cũng là một nhân tố góp phần làm cho người Sài Gòn
người Hà Nội “xích lại gần nhau” sau những biến cố lịch sử của đất nước.
3. Đã hơn một năm ngày “Hà Nội mở rộng”, nhưng những người Sài Gòn như
chúng tôi dường như vẫn chưa quen với điều đó, cũng như chưa thể quen
với sự “biến mất” của địa danh Hà Tây “xứ Đoài mây trắng”. Có lẽ sẽ phải
rất lâu nữa người ta mới không nói “Hà Tây cũ ấy mà” khi nhắc đến về
Đường Lâm, Quốc Oai, Hoài Đức, Cầu Giẽ, Suối Hai, Quảng Oai… Đôi khi tôi
cứ nghĩ vui: Hóa ra ngày còn nhỏ mình chả đi sơ tán ở đâu, bởi vì những
nơi ấy giờ cũng là… Hà Nội.
Hà Nội mở rộng có ba vùng văn hóa đặc sắc: Vùng văn hóa Thăng Long – Hà
Nội, vùng văn hóa xứ Đoài (các huyện phía bắc tỉnh Hà Tây) và vùng văn
hóa Sơn Nam Thượng (các huyện phía nam tỉnh Hà Tây). Trong cơn lốc đô
thị hóa hôm nay, nhiều làng quê đã xuất hiện nhà cao tầng, đường bêtông,
xe máy, tiện nghi đầy đủ không thua gì thành phố. Nhiều làng Việt cổ
truyền dần biến mất, văn hóa truyền thống Việt đang mai một nhanh chóng.
Việc sáp nhập Hà Tây với Hà Nội có nguy cơ làm cho miền quê mang những
nét văn hóa riêng biệt của làng nghề, ngôi đình cổ kính, của những vùng
cổ tích đẹp như những bài thơ sẽ chỉ còn trong hoài niệm. “Cầu Nam, chùa
Bắc, đình Đoài” là câu thành ngữ đúc kết đặc trưng văn hóa vật chất
truyền thống của những vùng miền xung quanh kinh đô Thăng Long. Giữ gìn
được nét riêng có của xứ Đoài trong một Hà Nội mới cũng là cách làm cho
văn hóa Hà Nội giàu có hơn lên.
Dù địa giới có mở rộng đến đâu thì Hà Nội vẫn phải là thủ đô “ngàn năm
văn hiến”, văn hóa Hà Nội phải gìn giữ được nếp sống thanh lịch của một
đô thị “kinh kỳ”. Trải qua những biến đổi, nhiều thế hệ người Hà Nội đã
ra đi, nhiều lớp người đã đến sinh sống ở Hà Nội. “Người Hà Nội” không
chỉ là tờ hộ khẩu hay cái biển số xe máy, xe hơi, mà người Hà Nội thể
hiện từ lời ăn tiếng nói, từ lối ứng xử văn minh tế nhị, từ tấm lòng
rộng mở và sự chân thành với nhau và với người tứ xứ.
Để cho những người dù chỉ một lần đến Hà Nội, khi chia tay đều cảm nhận
được “tấm lòng người Hà Nội”, để cho văn hóa người Tràng An xứng đáng
trở thành đại diện cho văn hóa người Việt Nam.
Và để những người đã xa Hà Nội, như tôi, luôn tự hào vì mình đã được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất ngàn năm văn hiến!
* * *
(*) Tác giả là Tiến sỹ chuyên ngành khảo cổ học, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Hậu (*)
Chia sẻ với bạn bè:
Theo dòng sự kiện