Năm
1989, tức là sau 13 năm có lẻ học tiếng Việt, dạy tiếng Việt và bảo vệ
luận án tiến sĩ về văn học Việt Nam, tôi mới đặt chân tới Việt Nam lần
đầu tiên. Đón tôi ở sân bay Nội Bài là một cựu sinh viên đang làm việc
tại Đại sứ quán Liên Xô.
Nghe tôi đề nghị đi một vòng quanh trung
tâm Hà Nội, anh hỏi: “Cô giáo muốn xem Hà Nội thay đổi thế nào ạ?”. Anh
ngạc nhiên khi biết rằng trước đó tôi chưa từng đến Hà Nội: “Sao cô có
thể truyền cho chúng em tình yêu Hà Nội, khi mà cô chưa hề tới đây?”.
Trong
quãng thời gian hơn 2 thập niên từ đó đến nay, tôi có hơn 6 năm gắn bó
với Hà Nội. Làm công dân của một đất nước tan rã với một núi khó khăn ập
lên đầu, bao nhiêu buồn vui và thử thách khắc nghiệt cả về tài chính
lẫn tinh thần đã làm tôi gần như kiệt sức. May mà còn có mái nhà thứ hai
ở Hà Nội.
Cái thời đầu thập niên 1990, những người bạn Việt Nam
tuy vẫn nghèo khó, nhưng đã làm tất cả những gì có thể để cuộc sống của
tôi được bảo đảm hơn, thoải mái hơn. Chính trong những ngày tháng gian
nan ấy, tôi đã có được những người bạn tuyệt vời nhất trong cuộc đời của
mình.
Nói ra điều này mong những người dân ở các
thành phố khác của Việt Nam thứ lỗi, nhưng tôi thấy chỉ có Hà Nội mới có
được cái hồn thiêng của đất nước Việt Nam, cái độc đáo khiến nó khác
hẳn với thủ đô của những nước láng giềng.
Đúng là thời gian gần
đây thành phố đã thay đổi nhiều, những khu phố hiện đại mọc lên, đường
phố vắng bóng xe đạp mà chật ních ôtô, xe máy. Nhưng những thành quả văn
minh đó lại không khiến tôi an lòng. Bởi từ sâu thẳm lòng mình, tôi cứ
thấy xót xa khi mỗi ngày thành phố lại mất đi một nét riêng nào đó mà ta
không gặp được ở bất cứ nơi đâu.
Ví như sự xuất
hiện ồ ạt của điện thoại đã làm mất đi cái không khí hội hè tết nhất,
khi mà trong suốt ba ngày liền thành phố biến thành cái tổ kiến khổng lồ
rực rỡ sắc màu, với hàng vạn chiếc xe đạp và xe máy chở theo cả gia
đình mặc quần áo đẹp cùng bóng bay đi chơi tết. Họ đi chúc Tết nhau, nói
cười vui vẻ.
Còn giờ đây, mệt mỏi vì nhịp sống chạy đua gấp gáp,
người Hà Nội thích chúc tết qua điện thoại, dành nhiều thời gian nghỉ
ngơi cùng gia đình, bên bàn tiệc hay trước máy thu hình.
Nhưng
dẫu xuất hiện những thói quen mới, thì người Hà Nội vẫn giữ được một
điều bất biến: Đó là thái độ trân trọng đối với lịch sử và di sản văn
hóa.
Năm 2003, tôi đến Hà Nội cùng Olga Svistunova
- một nữ nhà báo nổi tiếng của Hãng thông tấn ITAR-TASS, người được
mệnh danh là “cây bút vàng” trong lĩnh vực văn hóa. Chúng tôi được Thông
tấn xã Việt Nam sắp xếp ở tại Nhà khách Chính phủ, cách hồ Hoàn Kiếm –
trái tim của Hà Nội - chỉ có vài bước chân. Điều đó mang lại cho người
phụ nữ đã đi qua nửa thế giới một ấn tượng khó phai mờ. Svistunova thích
những kiến trúc kiểu Pháp tắm mình trong bóng râm của những hàng cây
nhiệt đới, ăn nhập hài hòa với cái hồ huyền thoại, nơi còn lưu giữ những
di tích đậm nét phương Đông.
Chị mê những đường phố nhỏ hẹp uốn lượn, mỗi phố bán một mặt hàng trong khu phố cổ.
Chị
thích những quán càphê ồn ã và trễ nải. Khi chiều buông, chị bị cuốn
vào tiếng trống chèo rộn rã và màn biểu diễn có một không hai của nghệ
thuật múa rối nước.
Svistunova đã được xem hàng
trăm đoàn nghệ thuật dân gian trên thế giới và khó có điều gì có thể làm
chị ngạc nhiên được nữa. Nhưng múa rối nước đã chinh phục chị hoàn
toàn. “Xem múa rối nước ở Hà Nội khác hẳn với xem cũng những nghệ sĩ ấy
diễn những tích trò ấy ở nước ngoài. Chỉ có ở đây, trong ta mới dậy lên
niềm xúc động thực sự” – Svistunova chia sẻ.
Chị kín đáo theo dõi
và thấy buổi biểu diễn nào cũng chật kín khán giả cả du khách nước
ngoài lẫn người Việt Nam: “Rõ ràng môn nghệ thuật này được người xem ưa
chuộng, dù tích trò không mấy thay đổi”.
Svistunova
thích cả cái cách mà người Việt không cố che giấu sự lộn xộn, không
ngại bị cho rằng mình còn chưa hiện đại và phải vươn tới văn minh bằng
mọi giá, thậm chí ngay cả khi văn minh làm tổn hại bản sắc dân tộc. “Đến
những siêu đô thị ở Châu Á hiện nay, có cảm giác hệt như đến Manhattan ở
New York. Cứ phải cố gắng đi tìm dấu vết văn hóa dân tộc của họ ở những
di chỉ nào đó. Còn ở Hà Nội, chúng có ở mỗi bước chân, ngay lập tức ta
biết rằng ta đang ở một thành phố có lịch sử và văn hóa nghìn năm” –
Svistunova nhận xét.
Người Hà Nội biết nâng niu
những giá trị truyền thống, trong khi mạnh chân bước trên con đường phát
triển. Thành phố thay đổi từng ngày, tư duy và cách sống của người dân
cũng thay đổi. Lớp trẻ lớn lên bên máy tính và bằng công nghệ thông tin,
nhưng vẫn đến với Văn Miếu với dòng người tưởng như không bao giờ cạn.
Một dân tộc có lớp trẻ biết nguồn cội và luôn tưởng nhớ tới tổ tiên của
mình thì dân tộc đó luôn có tương lai.
Hà Nội sẽ mãi là thành phố trẻ với những truyền thống nghìn năm của mình.
* * *
(*)
Tác giả là tiến sĩ Việt Nam học, hiện là phóng viên Hãng ITAR-TASS
chuyên viết về ngành nghiên cứu và chinh phục vũ trụ của LB Nga.