Người Việt Nam chúng ta hay nói rút gọn, ví dụ tàu hỏa đi Hải Phòng thì gọi là tàu Phòng, đi Thanh Hóa là đi Thanh, lên Thái Nguyên thì gọi là tàu Thái. Và nay, trà khô, xưa gọi là trà tàu, rồi là trà hương vì ướp một chút hương như ngâu, hồi… dù sản xuất ở Hòa Bình, Hà Giang, Phú Thọ… người bán trà cũng gọi bừa đi là trà Thái Nguyên, nói rút gọn là trà Thái. Có người còn cam đoan là trà Tân Cương, nhưng thực ra cả tỉnh Thái Nguyên chỉ có một xã Tân Cương thì làm sao mỗi năm có hàng chục tấn trà khô bán ở mọi nơi như thế được, chẳng qua là mạo danh cho đắt hàng làm mất cả cái quý của trà Tân Cương, trà Thái Nguyên nhỡ khi mua phải thứ trà xòang.
Thái Nguyên, một tỉnh miền núi, đứa con đầu lòng của ngành gang thép Việt Nam, lâu nay đã quen thuộc với nhiều người, với những ai ưa uống trà và những ai làm việc trong ngành công nghiệp. Con đường từ Hà Nội lên Thái, qua Phủ Lỗ, Trung Giã, Ba Hàng, Trà Vườn, Lưu Xá đã thênh thang chạy song song cùng đường sắt, chứ nếu nhớ lại khoảng gần đầu thế kỷ này thì Thái Nguyên chắc còn hoang vu lắm, vắng vẻ lắm, nên thực dân Pháp mới xây nhà tù giam chính trị ở thị xã ấy.
Nhưng từ nhà tù này đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, làm kinh hoàng cho chính quyền thực dân thời đó. Trịnh Văn Cấn đóng chức Đội nên được gọi là Đội Cấn,được Lương Ngọc Quyến, một người tù chính trị, một nhà yêu nước trẻ tuổi làm “quân sư “ đã đứng lên diệt đồn, cướp chính quyền trog thị xã. Cuộc khởi nghĩa chỉ tồn tại 6 ngày, rồi phải rút quân ra ngoại thành và bị dìm trong bể máu.Đội Cấn phải tự sát để khỏi rơi vào tay quân thù, Lương Ngọc Quyến vì bị liệt chân nên hy sinh (có thuyết nói ông tự sát để nghĩa quân khỏi bận lòng).
Cuộc khởi nghĩa tuy ngắn ngủi nhưng là tiếng kèn báo hiệu cho những cuộc cách mạng sau đó, là lời cảnh cáo chế độ thực dân hà khắc, dã man đến nay vẫn được lịch sử nhắc đến như một trang hào hùng của dân tộc việt Nam bất khuất.
Lương Ngọc Quyến là ai mà nay ở Hà Nội có phố mang tên ông? Đó là con trai cụ Cử Lương Văn Can, một nhà nho thức thời yêu nước, một trong những người sáng lập phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nổi tiếng (cũng có một phố Lương Văn Can nằm ngay phố Hàng Quạt cũ).
Lương Ngọc Quyến có hiệu là Lập Nham, sinh năm 1885. Ông và em trai là những thanh niên đầu tiên hưởng ứng phong trào Đông Du, sang Nhật tìm đường làm cách mạng(năm 1905). Năm 1911 ông về Trung Quốc cùng Phan Bội Châu tổ chức ra Việt Nam Quang Phục hội. Năm 1914 ông bị cảnh sát Anh Quốc bắt tại Hồng Công, chuyển cho Pháp và giải về Hà Nội, bị tuyên án khổ sai chung thân và bị đầy lên nhà tù ở thị xã Thái Nguyên. Trong tù, ông đã giác ngộ được nhiều binh lính bằng quan điểm cách mạng và bằng cả đạo đức, nếp sống giản dị, tinh thần bất khuất, thái độ chan hòa dân chủ của mình, vì vậy mà Đội Cấn đã nhờ cậy ông làm “cố vấn” cho cuộc khởi nghĩa. Lương Ngọc Quyến hy sinh rất trẻ, đó là năm 1917, mới 32 tuổi.
Phố Lương Ngọc Quyến này nằm gọn trong khu phố cổ Hà Nội, trong quận Hoàn Kiếm, dài 324 mét, nối từ phố Nguyễn Hữu Huân (xưa gọi là phố Bắc Ninh) sang đến phố Hàng Giầy. Đấy là một phố thuộc loại ngắn của Hà Nội, xưa tuàng là thôn Ưu Nhất và thôn Ngư Võng, huyện Thọ Xương.

Ngã tư phố Lương Ngọc Quyến - Tạ Hiện.
Khu vực này từng có thời kỳ được gọi là cái dạ dày của Hà Nội, đầy hàng quà đủ loại bán gần suốt đêm vì có nhiều rạp hát, rạp chiếu bóng, nhiều ổ thuốc phiện bí mật một cách công khai cùng nhiều Hoa Kiều sinh sống, hay thức khuya để cờ bạc,và làm những việc mà chỉ riêng họ thích. Nay giữa phố vẫn còn một rạp hát được xây dựng lại sau năm 1954, nhưng nay cải lương đang không còn khách, rạp bỏ không, đoàn cải lương Kim Phụng cũng không còn hoạt động. Xế cưả rạp có một khách sạn, nguyên là một cửa hàng thực phẩm cải tạo lại, trước kinh doanh thứ căn chín, chủ yếu là giò chả, đắt hàng vào dịp tết Nguyên Đán (thời bao cấp gần như độc quyền nên đắt hàng là đương nhiên). Dọc phố là những nhà buôn bán nhỏ, từng có hàng phở Kế khá ngon, có hàng cao lâu có món ăn thập cẩm, thời tạm chímgọi là cơm Hoa Kỳ, sau hòa bình món ấy đổi thành “Hồng Kỳ” (tức cơm cờ đỏ). Ghê thay cho thói theo thời của người chủ cao lâu này. Mấy năm nay, hàng ăn lại mọc ra nhan nhản khắp phố, nào cà phê Ca, nào các hàng xôi trứng rán, xôi lạp sườn, xôi gà, xôi thịt kho tàu, nào bánh bao nóng, cùng phở, mỳ, cháo và rất nhiều món khác cho khách ăn tới khuya. Ngã ba, phố Lương Ngọc Quyến gặp ngõ Nội Miếu, nơi có nhà sản xuất xì dầu cũng đã thành khách sạn với nhôm kính sáng choang, tây ba lô thích thuê ở đây vì rẻ và cũng vì dễ đi chơi trong khu phố cổ Hà Nội bất cứ giờ nào. Quá một chút, trên phố Hàng Giày, có quán bánh trôi tàu, lục tào xá, chí ma phù của nghệ sỹ ưu tú Phạm Bằng đứng bán (cùng vợ và mấy cô con gái) khi ông không lên sân khấu. Cũng khá ngon nên đông khách. Có khi chủ quán cùng khách ngồi bên bát chè ngọt bình luận về vở diễn hoặc một cuốn băng hình vừa chiếu trên truyền hình.
Một người Hà Nội, hi sinh ở Thái Nguyên. Trà Thái Nguyên hàng ngày bán nhiều trên phố Hàng Điếu. Hà và Thái duyên tình gắn bó là vậy, chưa kể hàng ngày xe lửa đi về giữa hai thành phố, một Thủ Đô và một cũng là Thủ Đô cách mạng, của kháng chiến…
Chia sẻ với bạn bè:
Theo dòng sự kiện