(Xuân 2010) -
Hà Nội vừa gửi bộ hồ sơ 1.304 vị tiến sĩ
thời Lê-Mạc (1442-1779) có đầy đủ “trích ngang” chạm vào 82 bia đá, do
82 vị “thần kim quy” làm vệ sĩ và chịu sự “quản lý” của Đức Khổng Tử
(một trong không nhiều nhà triết học - đạo đức học vĩ đại của phương
Đông) lên UNESCO để công nhận là “Ký ức thế giới”.
Triết học là
gốc, văn hóa là nền, còn lại những tầng nổi khác đa phần là… phù du (!).
Như thế là Thăng Long - Hà Nội đã chọn đúng “hòn đá tảng” để chạm khắc
một lần nữa vào ký ức toàn nhân loại một quốc gia có nền văn hiến mấy
nghìn năm, chỉ tính riêng 2 triều đại Lê - Mạc đã có cả nghìn “hiền tài
là nguyên khí quốc gia”. Những bia tiến sĩ ở Văn Miếu Hà Nội là dấu ấn
xác thực, độc đáo và duy nhất, có ý nghĩa quốc tế của một thời đại ở
Việt Nam, không ai làm giả được vì ngoài nội dung còn có giá trị nghệ
thuật điêu khắc đá. Đó thực sự là một di sản tầm thế giới.
Một
nghìn năm có cả nghìn chuyện để nói. Ngày 21.11.1009, Lý Công Uẩn lên
ngôi. Ngay sau đó, mùa xuân năm 1010 ông quyết định rời đô từ Hoa Lư
(Ninh Bình) ra Đại La và đổi tên là Thăng Long. Giáo sư - tiến sĩ Hàn
Quốc Yu In Sun đã nhận xét: “Việc dời đô cho thấy nhà vua có ý định xây
dựng một chính quyền trung ương mạnh để cai quản toàn bộ lãnh thổ đất
nước”.
Những phát hiện khảo cổ học về Thăng Long ngay giữa trung
tâm Hà Nội vừa qua cho thấy sự hội tụ, kết tinh, tính liên tục của một
trung tâm văn hóa quốc gia, có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với nước
ngoài - đó là kỷ nguyên văn minh Đại Việt (GS-TS Nguyễn Quang Ngọc).

Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội).
Lần
theo sử sách, trở về thời kỳ cách đây trên dưới 2 vạn năm, Hà Nội còn
nằm mấp mé biển. Con sông Hồng bắt nguồn từ dãy Ngụy Sơn, cao 1.776m
thuộc huyện Nhị Đô, tỉnh Vân Nam (Trung Hoa) đã chảy qua Hà Nội, bồi đắp
phù sa thành châu thổ Bắc Bộ. Cửa sông nay là cửa Ba Lạt - nằm giữa đất
Thái Bình và Nam Định.
Năm 218 (trước CN), Tần Thủy Hoàng đưa 50
vạn quân đánh Bách Việt, dải đất phía nam Trung Hoa lục địa. Một thủ
lĩnh Nam Việt là Thục Phán đã tổ chức cuộc kháng chiến hơn 10 năm và đã
chiến thắng quân Tần. Thục Phán dựng nước Âu Lạc, xây kinh thành Cổ Loa.
Sau đó các nhà Tùy - Đường dẹp được Lý Bí (vua nước Nam - nước
Vạn Xuân) để đô hộ nước ta 1.000 năm. Đó là thời kỳ tiền Thăng Long, một
thời kỳ dài nghìn năm quằn quại chống xâm lược, chống sự đồng hóa để
đến Lý Thái Tổ chọn đất Hà Nội xây nền văn hiến Việt Nam. Ba lần thắng
giặc Nguyên - Mông (1258-1285-1288), Lê Lợi giải phóng Đông Quan (1418)
tiêu diệt quân Minh…
Năm 1588, nhà Mạc cho đắp 3 vòng lũy đất bảo
vệ Thăng Long. 1592, họ Trịnh phá thành, nhưng 1790 lại đắp lại. Lúc đó
sử sách ghi Hà Nội đã có 1 triệu dân. Năm 1805, nhà Nguyễn lại phá
thành, rồi 1831 đổi tên là tỉnh Hà Nội. Tháng 11.1873, tướng Pháp
Garnier đem quân chiếm Bắc Kỳ. Ngày 21.11, chiếm thành. Ngày 21.12,
Garnier bị dân Hà Nội có sự hỗ trợ của “quân cờ đen” tiêu diệt. Biết bao
dâu bể, biết bao cuộc chiến tranh.
Trong lịch sử nghìn năm Thăng
Long - Hà Nội, người Thăng Long đã phải 7 lần giải phóng, chiếm lại thủ
đô. Lần thứ bảy là vào ngày 19.8.1945, đây là lần cuối cùng vì 9 năm
kháng chiến dù Chính phủ VNDCCH chuyển lên Việt Bắc, nhưng Hà Nội vẫn
của ta, giặc Pháp chỉ tạm chiếm. Ngày 10.10.1954, ta chiếm lại. Trong
lịch sử nhân loại có thủ đô nào 7 lần giải phóng, nghìn năm chiến đấu và
chiến thắng như Hà Nội?
Cách đây đã lâu, có đọc một tài liệu nói
về Hà Nội trước Thế chiến thứ II. Hồi ấy, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã
phát triển đến một đỉnh điểm. Các đô thị - kể cả Paris, thủ đô “mẫu
quốc” của xứ An Nam thuộc Pháp - đã bắt đầu thấy chật chội, ngột ngạt vì
tốc độ đô thị hóa. Hà Nội được đánh giá là một đô thị chuẩn nhất.
Một
thành phố có khu phố cổ 36 phố phường, có khu phố tây (quận Ba Đình)
đến nay vẫn sang trọng vào bậc nhất thế giới với những biệt thự và những
con đường rợp bóng cổ thụ. Có khu phố mới cho viên chức thuộc địa (quận
Hai Bà Trưng) nhỏ hơn phố Tây nhưng sang trọng, sạch sẽ. Có hồ Tây, hồ
Hoàn Kiếm, Thiền Quang và 150 ao hồ làm mát thành phố. Có làng hoa Ngọc
Hà, Hữu Tiệp, Nghi Tàm…

Bia tiến sĩ trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Giang Huy
Quận
Đống Đa ngày ấy phố xá hòa với làng xóm, ruộng vườn. Các con sông Tô,
sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu vẫn là… con sông. Hà Nội có một nhà máy
đèn (điện Yên Phụ) một nhà máy nước, một sở tàu điện leng keng từ Bạch
Mai lên Bưởi, từ Bờ Hồ vào Cầu Giấy, Hà Đông, từ Hàng Cót lên Yên Phụ.
Các cửa ô thông thoáng. Hà Nội còn có 2 sân bay Gia Lâm và Bạch Mai.
Có
ga Hàng Cỏ, bến xe liên tỉnh Long Biên, bến tàu thủy Phà Đen, dân số
hợp lý, sống hài hòa với cơ sở hạ tầng. Chỉ tính riêng về địa lý và kiến
trúc xây dựng, cộng với các đền chùa miếu mạo, các di tích lịch sử,
kiến trúc, văn hóa, các thần tích và huyền thoại, truyền thuyết, Hà Nội
đã thực sự là thành phố hài lòng kẻ ở và là nỗi nhớ “nghìn năm thương
nhớ đất Thăng Long” với người đi.
Những năm gần đây, nhất là 2
thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, Hà Nội “bung ra” như “bắp rang bơ”, dẫn
đến tình trạng tự mình làm mất vẻ đẹp chuẩn của một đô thị. Kiến trúc
mới lộn xộn, chắp vá, mạnh ai nấy làm đã trùm lên Hà Nội, như cây mai
dương hoang dại trùm kín đất đai, xóa dần di tích nghìn năm.
Đến
nay, chúng ta đang quy hoạch lại thủ đô. Hà Đông, Sơn Tây nhập vào Hà
Nội. Từ Nam ra Bắc, đi từ Phú Xuyên (giáp Đồng Văn của Hà Nam) lên đến
giáp Vĩnh Phúc, Phú Thọ dễ có đến 2 giờ ôtô. Quỹ đất mênh mông, núi đồi,
sông suối, đầm hồ toàn cảnh đẹp.
Dân cư đông hơn 6 triệu người,
có tới 4 triệu nông dân sống ngàn đời trên vùng đất cổ, chiều sâu văn
hóa, thuần phong mỹ tục, sản vật muôn vẻ, làng nghề danh tiếng. Đến hôm
nay mới thấy hết thế “rộng cuộn hổ ngồi” và “chốn đế đô muôn đời” của cụ
Lý Thái Tổ.
Thế là vậy, nhưng lực cũng đã bắt đầu đủ mạnh (cả nội
lực và ngoại lực). Sau giải phóng miền Nam có cụm từ “thế hệ thứ tư”,
để nói về lớp người trưởng thành sau chiến tranh, bắt tay vào xây dựng
hòa bình. Còn “thế hệ thứ năm” (có ai gọi thế không?) là chính chúng ta
đã chịu bầm giập để thoát ra khỏi cơ chế bao cấp, bước vào thời kỳ hội
nhập, chính xác là bước vào kỷ nguyên phát triển chưa bao giờ có trong
lịch sử.
Để phê phán những bất cập trong xây dựng nền kinh tế -
xã hội hiện tại, nhiều người dùng cụm từ “tư duy nhiệm kỳ”. Thực ra từ
“nhiệm kỳ” chẳng có lỗi gì, nó mang tính kế hoạch của một sự phát triển
xã hội. Có dự án nào không cần thời gian?
Vậy thì, tiếp tục mạch
tư duy, liệu “thế hệ thứ sáu” chúng ta có xây dựng một thủ đô hiện đại,
đứng đầu cả nước và nằm trong danh sách các “đại đô thị” của thế giới?
Với thế và lực hôm nay, với nghìn năm văn hiến Thăng Long - Hà Nội, chắc
chắn điều đó sẽ thành hiện thực. Một tương lai phải mất 1.000 năm kiến
thiết, giữ gìn, tương lai ấy sẽ rực rỡ lắm!
Trần Chinh Đức
Chia sẻ với bạn bè:
Theo dòng sự kiện