Theo
Đại Việt Sử ký toàn thư (ĐVSKTT), Trần Nhân Tông, tên húy là Khâm, sinh
ra đúng ngày 11/11. Lúc mới chào đời, "được tinh anh thánh nhân, thuần
túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng…
Trên vai bên trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc
lớn". Ông lên ngôi năm 1278 vào mùa đông.
Trần Nhân Tông chỉ ở ngôi có 15
năm, cho tới năm 1293 nhưng đã lập được nhiều võ công hiển hách. Chính
trong giai đoạn ông trị vì, quân Nguyên Mông từ năm 1285 tới 1287 đã hai
lần táo tợn sang đánh Đại Việt nhưng đều phải ôm đầu máu chạy về nước.
Bí quyết thành công không chỉ ở tài năng thiên phú của Trần Nhân Tông mà
cả ở đức độ và tinh thần đoàn kết trên dưới trong ngoài của ông đã giúp
tạo dựng một sức mạnh vô địch cho Đại Việt.
Trần Nhân Tông đã thu hút được
rất nhiều người tài giúp rập cho mình. Chính những người tài này đã giúp
nhà vua dẹp yên nhiều nhiễu nhương và rối loạn trong nội bộ quốc gia để
khi cần tập trung tổng lực chống giặc ngoại xâm, sĩ khí và trí lực của
Đại Việt lúc đó không lúc nào thiếu.
Một thí dụ, vụ chiêu hàng Trịnh
Giác Mật ở đạo Đà Giang mà sách ĐVSKTT có chép. Số là, sau khi biết
Trịnh Giác Mật làm phản, Trần Nhân Tông đã sai Chiêu Văn Vương, Trần
Nhật Duật, người có trách nhiệm coi sóc đạo Đà Giang đi dụ hàng. Trần
Nhật Duật vốn chẳng lạ gì địa bàn này vì từ lâu ông cũng đã làm được
nhiều việc ở đây, ân uy đủ cả…
Hay tin, Mật trong lòng cũng
nao núng nhưng vẫn sai người đến quân doanh của Trần Nhật Duật nói cứng:
"Mật không dám trái mệnh. Nếu ân chúa một mình một ngựa đến thì Mật xin
hàng". Trần Nhật Duật nhận lời ngay, chỉ đem 5, 6 tiểu đồng cùng đi dù
các tùy tướng thân cận ngăn lại vì sợ Mật tráo trở, nói vậy mà không
phải vậy. Trần Nhật Duật gạt đi hết: "Nếu Mật có giáo giở với ta thì
triều đình còn có vương khác đến".
Bất chấp việc người Man dàn vây
mấy chục lớp và đều cầm đao thương chĩa vào phía trong để thị uy trong
trang trại, Trần Nhật Duật vẫn điềm tĩnh đi thẳng vào, trèo lên trại,
buộc Mật phải lễ phép mời ông ngồi. Trần Nhật Duật vốn là một quan gia
trí tuệ và trí thức sâu dày, thạo biết nhiều thổ ngữ và am hiểu phong
tục của nhiều dân tộc nên đã hành xử với Mật theo đúng kiểu người Man,
cùng ăn bốc và cũng uống bằng mũi.
Sau chuyến đi vào hang hùm của
Trần Nhật Duật, Mật đã đem gia thuộc đến doanh trại đầu hàng… Sự cố được
xử lý êm xuôi không tốn một mũi tên… Trần Nhân Tông cũng đã kịp thời
khen ngợi và đối xử rất tử tế với Mật và con cháu của ông này…
Cũng chính Trần Nhân Tông đã
sai Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông Lô để
đuổi cá sấu đi khỏi nơi này. Nguyễn Thuyên là người có công thúc đẩy các
sáng tác thơ bằng chữ quốc ngữ từ thời đó…
Trần Nhân Tông rất ưu ái với
các tài năng, ngay cả khi những tài năng đó "nhân vô thập toàn". Cung
cách mà Trần Nhân Tông đối xử với Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư cũng là
theo hướng đó. Ông quan võ có phong độ cướp biển Trần Khánh Dư từng lập
chiến công đánh úp quân Nguyên nên đã được Trần Nhân Tông khen ngợi có
trí lược, lập làm Thiên tử nghĩa nam.
Trần Khánh Dư sau đó còn dẹp
được người Man ở vùng núi nên được phong làm Phiêu Kỵ Đại tướng quân.
Đây là chức vụ mà nếu không phải là hoàng tử thì không được phong nhưng
vì Trần Khánh Dư là Thiên tử nghĩa nam nên mới được hưởng đặc ân này. Cứ
thế Trần Khánh Dư đã được phong lên tới chức Tử phục Thượng vị hầu,
quyền chức Phán thủ.
Tuy nhiên, Trần Khánh Dư lại bị
mắc tội đầu mày cuối mắt với công chúa Thiên Thụy, khi đó đang là vợ
của Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn, con trai của Hưng Đại Vương Trần
Quốc Tuấn. Trần Nhân Tông trong tình thế khó xử vì rất ngại Trần Hưng
Đạo phật ý nên mới bên ngoài thì sai người đánh chết Trần Khánh Dư ở Hồ
Tây, nhưng bên trong lại dặn đừng quá tay để Trần Khánh Dư phải chết.
Để làm nghiêm phép nước, mặc dù
rất trọng tài năng võ tướng của Trần Khánh Dư, sau vụ này, Trần Nhân
Tông đã phải xuống chiếu đoạt hết quan tước, quân tịch thu tài sản không
để lại cho một chút gì. Cực chẳng đã, Trần Khánh Dư phải đi làm nghề
bán than kiếm kế sinh nhai ở châu Chí Linh…
Một lần, thuyền Trần Nhân Tông
đỗ trên bến Bình Than. Lúc đó, nước triều đã rút, gió lồng lộng. Bỗng
nhiên vua thấy đi ngang qua là một chiếc thuyền lớn chở than củi mà trên
đó là một người lái thuyền đội nón lá, mặc áo ngắn, trông rất giống
Trần Khánh Dư. Trần Nhân Tông mới chỉ và bảo quan thị thần:
- Người kia chẳng phải là Nhân Huệ Vương đó sao?
Rồi vua sai người chèo thuyền
nhỏ đuổi theo, đến cửa Đại Than thì kịp. Khi nghe quân hiệu bảo là có
lệnh vua triệu thì Trần Khánh Dư đã ngang ngạnh nói:
- Lão là người buôn bán, có việc gì mà phải triệu.
Nghe quân hiệu tâu lại, Trần Nhân Tông không những không nổi giận lôi đình mà lại thốt lên đầy thương cảm:
- Đúng là Nhân Huệ đấy, ta biết người thường tất không dám nói thế.
Và vua lại sai nội thị đi gọi. Khi Trần Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá đến, vua xót xa than:
- Nam nhi mà đến nỗi này thì thực là cùng cực rồi…
Rồi Trần Nhân Tông xuống chiếu
tha tội cho Trần Khánh Dư, ban cho áo ngự, cho ngồi hàng dưới các vương,
trên các công hầu, cùng bàn việc nước… Không phải Trần Nhân Tông không
biết rõ những điểm yếu của Trần Khánh Dư nhưng với ông, tài làm tướng
của ông này là cần cho đất nước trong thời điểm gian nguy phải đối mặt
với nguy cơ xâm lược lớn từ phía nhà Nguyên nên ông cũng phải bỏ qua
nhiều điều sai quấy của Trần Khánh Dư. Về sau Trần Khánh Dư cũng lập
được những võ công không nhỏ…
Mùa xuân năm 1293, Trần Nhân
Tông nhường ngôi cho Hoàng Thái tử Thuyên, về làm Thái Thượng hoàng.
Hoàng Thái tử Thuyên lên ngôi, tức vua Trần Anh Tông. Không còn cần phải
ngồi trên ngôi báu nữa, Trần Nhân Tông xuất gia tu hành tại cung Vũ
Lâm, Ninh Bình rồi sau đó rời đến Yên Tử, Quảng Ninh. Chính tại đó, ông
đã lập ra Thiền phái Trúc Lâm, lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay
Trúc Lâm đầu đà). Ông là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này và về sau được gọi cung kính là Phật Hoàng…
Xuất gia rồi, nhưng ông vẫn
không sao nhãng việc rèn giũa thế hệ sau. Cũng ĐVSKTT chép về một lần
Thượng hoàng (Trần Nhân Tông) từ phủ Thiên Trường bất ngờ trở về Thăng
Long năm 1299:
"Các quan trong triều không ai
biết cả, vua thì uống rượu xương bồ say khướt. Thượng hoàng thong thả đi
thăm khắp các cung điện, từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Cung nhân dâng bữa,
Thượng hoàng ngoảnh nhìn không thấy vua, lấy làm lạ, hỏi là Quan gia ở
đâu? Cung nhân vào trong nội đánh thức, nhưng ngài không tỉnh. Thượng
hoàng giận lắm, lập tức trở về Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan
ngay ngày mai đều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh
sẽ bị xử tội.
Đến giờ Mùi vua mới tỉnh, cung
nhân đem việc ấy tâu lên. Vua sợ quá, đi rảo ra khỏi cửa cung không thấy
ai coi giữ; qua chùa Tư Phúc, thấy học sinh Đoàn Nhữ Hài ở cửa chùa.
Vua hỏi: "Sao ngươi lại ở đây?". Nhữ Hài vội vàng lạy rạp xuống đất tâu:
"Thần vì mải học, đi lỡ ra đây". Vua bèn dẫn Nhữ Hài vào buồng ngủ và
bảo:
"Vừa rồi trẫm vì say rượu, có tội với Thượng hoàng, giờ trẫm định đến trước mặt ngài tạ tội, ngươi hãy thảo cho trẫm bài biểu".
Nhữ Hài đứng trước mặt vua, soạn xong tờ biểu. Vua bèn lấy thuyền nhẹ đi ngay, cho Nhữ Hài theo mình.
Sáng sớm hôm sau, vua tới phủ
Thiên Trường, dâng biểu tạ tội. Thượng hoàng thấy Nhữ Hài, liền hỏi là
người nào. Nội nhân trả lời là người dâng biểu của Quan gia. Thượng
hoàng không nói gì.
Buổi chiều, mưa gió ập đến. Nhữ
Hài vẫn cứ quỳ không nhúc nhích. Thượng hoàng hỏi: "Người ở trong sân
có còn đấy không?". Nội nhân đáp rằng còn. Thượng hoàng bèn sai nhận
biểu để xem, thấy lời lẽ khẩn thiết cho gọi vua vào bảo:
"Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được. Trẫm đang sống mà ngươi còn như thế, huống chi sau này?".
Vua rập đầu tạ tội…".
Cũng trong sự cố này, Thượng
hoàng đã lại có mặt sanh tìm ra cho triều Trần một vị quan tài ba lỗi
lạc. Đó là Đoàn Nhữ Hài. Sau khi quở mắng con trai là vua Trần Anh Tông
rồi, Thượng hoàng mới hỏi:
- Ai soạn biểu cho ngươi?
Nhà vua thật thà thưa: "Đó là
thư sinh Đoàn Nhữ Hài". Thế là Thượng hoàng bèn gọi Đoàn Nhữ Hài vào và
bảo: "Bài biểu ngươi soạn, rất hợp lòng trẫm". Rồi Thượng hoàng xuống
chiếu cho Quan gia lại vẫn làm vua; các quan về triều như cũ…
Sau vụ này, Đoàn Nhữ Hài đã
được vua Trần Anh Tông phong làm Ngự sử trung tán, một chức quan rất to
đối với một người trẻ tuổi như thế (ông sinh năm 1280)… Đoàn Nhữ Hài về
sau còn làm lần lượt nắm giữ các chức vụ Ngự sử trung tán, Tham tri
chính sự, Hành khiển, Thiên tử chiêu dụ sứ, Kinh lược Nghệ An… không chỉ
ở triều vua Trần Anh Tông mà cả triều vua tiếp theo, Trần Minh Tông.
Ông hy sinh trong cuộc chinh phạt Ai Lao năm 1335…
Trần Nhân Tông qua đời ngày 3
tháng 11 âm lịch năm 1308, được an táng ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng,
xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân. Các sử gia thời Hậu Lê đã nhận định về
ông trong ĐVSKTT như sau: "Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự
nghiệp trung hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà
Trần"